Toàn cầu hóa - một số vấn đề lý luận, nhận thức dưới góc nhìn của CNXHKH.

Email In PDF.

Từ rất sớm, Các Mác, Ph. Ăngghen đã có những phân tích , luận giải ý nghĩa liên quan tới vấn đề toàn cầu hóa khi phân tích vấn đề quốc tế hóa.



Ảnh minh họa


Trước Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Các Mác đã bàn tới quốc tế hóa bằng việc chỉ ra có một vấn đề mang bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản đang lan tràn trên diện rộng, đang thâm nhập, tác động ngày càng nhiều đến thế giới và mang tính quốc tế mà “với những mâu thuẫn ghê gớm nhất của chúng sẽ tác động trên một phạm vi rộng lớn hơn, trên một vùng mênh mông hơn, toàn thế giới” [1,tr.376]. Đó là vấn đề mậu dịch tự do, vấn đề đang mang tính quốc tế.

Đến Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, nhiều nội dung lý luận của quốc tế hóa theo quan điểm duy vật lịch sử đã được Mác, Ăngghen lí giải thấu đáo và sâu sắc hơn. Thứ nhất: Mác, Ăngghen chỉ ra nguyên nhân gây nên quốc tế hóa kinh tế, chính trị, văn hóa của giai cấp tư sản chính là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Thứ hai: Mác, Ăngghen chỉ ra thực chất của quốc tế hóa, không gì khác, chính là quốc tế hóa tư bản, thực hành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở khắp mọi nơi trên thế giới. Thứ ba: Mác, Ăngghen bằng việc nghiên cứu mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với và qui luật đấu tranh giai cấp đã vạch ra xu thế cuối cùng của sự phát triển quốc tế hóa.

Hạn chế trong quan điểm của Mác và Ăngghen là chưa đề cập tới lý luận về toàn cầu hóa – bước phát triển cao của quốc tế hóa. Song những quan điểm dự báo này vẫn có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng trong việc nhận thức và tiếp cận đúng đắn vấn đề tác động của toàn cầu hóa hiện nay.

Kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác trong bối cảnh lịch sử mới, Lênin mặc dầu chưa có những ý kiến bàn trực tiếp đến toàn cầu hóa song đã tiếp tục kế thừa quan điểm của Mác, Ăngghen đồng thời phân tích, giải quyết không ít nội dung lý luận mới xoay quanh vấn đề đó.

Thứ nhất: thay tấm áo cũ “tự do cạnh tranh” để khoác tấm áo mới “độc quyền”, “đế quốc chủ nghĩa” cũng đồng thời với việc chủ nghĩa tư bản bước sang một thời kì mới, thời kì mà Lênin cho rằng có sự tác động lẫn nhau đang diễn ra mạnh mẽ của hai xu hướng thế giới: Một mặt là xu hướng quốc tế hóa, hội nhập kinh tế và toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội. Một mặt là xu hướng biệt lập, xây dựng các Nhà nước độc lập.

Thứ hai: Lênin có những quan điểm rất khoa học về một dạng của hội nhập (rất gần với vấn đề toàn cầu hóa), đó là “đồng hóa”. Điều này được minh chứng trong cuộc tranh luận với Lipman về “đồng hóa”, Lênin và những người mác xít chân chính cho rằng: vấn đề không phải ở chỗ xóa bỏ xu hướng đó mà là chống các phương tiện, các thủ đoạn cưỡng bức, áp bức, bất bình đẳng mà chủ nghĩa tư bản sử dụng để đưa xu hướng đó vào đời sống hiện thực.

Đến Hồ Chí Minh, bên cạnh những tư tưởng chung về CNXH, Hồ Chí Minh cũng nêu ra những tư tưởng cụ thể về hội nhập quốc tế:

Hồ Chí Minh cho rằng hễ còn một kẻ thù xâm lược thì ta (nhân dân Việt Nam) phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi. Nhưng ta sẵn sàng hoan nghênh, mở cửa cho những người Pháp, người Mỹ và tư bản các nước khác đến giúp đỡ Việt Nam với tư cách là những chuyên gia kỹ thuật, nhà kinh doanh. Nghĩa là, từ khá sớm, trong quan điểm của Hồ Chí Minh, mở cửa hội nhập, phát triển đất nước là điều cần thiết và phải dựa trên cơ sở độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Những nội dung về hợp tác, hội nhập trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể coi là sự vận dụng và kế thừa sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; trở thành một trong những lý luận nền tảng của Đảng Cộng sản Việt Nam xoay quanh việc nhận thức về toàn cầu hóa và các vấn đề liên quan hiện nay.

Như vậy, có thể thấy trong bối cảnh còn nhiều tranh cãi về toàn cầu hóa, còn nhiều biến động phức tạp của thời đại ngày nay, những quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh vẫn là cơ sở phương pháp luận khoa học cho việc nhận thức toàn cầu hóa và các vấn đề liên quan ở Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Nayan Chanda thuộc trung tâm nghiên cứu toàn cầu hóa Đại học Yale khi nghiên cứu về toàn cầu hóa cho rằng toàn cầu hóa bắt đầu trước khi quả địa cầu được phát minh. Qủa địa cầu xưa nhất trên thế giới còn tồn tại cho tới nay được nhà địa lý người Hà Lan Martin Behain làm ra vào năm 1492. Như vậy là quá trình toàn cầu hoá đã diễn ra từ trước thế kỷ XV, từ khá sớm trong lịch sử nhân loại.

Diễn ra từ khá sớm như vậy nhưng khái niệm “toàn cầu hóa” (globalization) chỉ được George Modelski lần đầu tiên đưa ra vào năm 1792 trong tác phẩm “Principle of the World politics” khi nói tới vấn đề Liên minh châu Âu lôi kéo các nước khác vào một hệ thống thương mại toàn cầu. Đến năm 1962, thuật ngữ này mới được đưa vào từ điển tiếng Anh của Webster và phải đến năm 1980 mới được sử dụng một cách thông dụng.

Cũng có không ít học giả đi tìm sự liên hệ giữa thuật ngữ “toàn cầu hóa” với “quốc tế hóa”… để cho rằng “toàn cầu hóa” và “quốc tế hóa” là một và “toàn cầu hóa” chẳng qua chỉ là một thuật ngữ, một tên gọi mới cho một quá trình cũ, có từ thời Alexandre Đại đế vào thế kỷ IV trước công nguyên hay từ thời phát hiện ra châu Mỹ (1942). Tuy nhiên, có thể thấy, dù là một thuật ngữ khoa học được đưa ra vào những năm 90 của thế kỷ XVIII song trên thực tế, xu thế này đã được diễn ra từ rất sớm trong lịch sử loài người.

 Về mặt nội dung khái niệm: Cho tới nay, vẫn còn nhiều cuộc tranh luận đi tìm đáp án cho câu hỏi “toàn cầu hóa là gì?”. Nhưng về cơ bản, người ta thường thấy câu trả lời thuộc về hai loại.
Loại thứ nhất tập trung vào sự tăng lên của các mối quan hệ lẫn nhau hoặc sự phụ thuộc lẫn nhau của các dòng nhân tố xuyên quốc gia. Theo đó thế giới, ở một khía cạnh nào đó, đang trở thành một điểm duy nhất. Nghĩa là, những người theo quan điểm này cho rằng toàn cầu hóa là sự gia tăng mối quan hệ lẫn nhau giữa các quốc gia.

Thuộc loại này có thể kể tới định nghĩa: “toàn cầu hóa là quá trình giảm thiểu những rào cản giữa các nước và khuyến khích sự tác động qua lại chặt chẽ hơn về kinh tế, chính trị và xã hội”[2,tr.15].
Hoặc định nghĩa của Chủ tịch quỹ Ford “thuật ngữ (toàn cầu hóa) phản ánh một mức độ ảnh hưởng lẫn nhau toàn diện hơn so với trong quá khứ, cho thấy một số khác biệt với thuật ngữ “quốc tế”. Nó ngụ ý tầm quan trọng ngày càng giảm của các đường biên giới quốc gia và sự tăng cường những đặc tính lan tỏa ra ngoài biên giới bắt nguồn từ một nước hoặc một khu vực nhất định”[2,tr.16].

Loại thứ hai mang tính lí thuyết hơn và nhấn mạnh sự rút ngắn về thời gian và không gian.
Tiêu biểu cho loại này là quan điểm của Anthony Giddens “toàn cầu hóa có thể được định nghĩa là sự tăng cường các mối quan hệ xã hội trên toàn thế giới liên kết những địa điểm xa xôi theo một cách mà những sự kiện xảy ra ở nơi này được định hình bởi những sự kiện đang xảy ra ở nơi khác cách đó nhiều dặm và ngược lại”[2,tr.51]. Ông nói thêm, toàn cầu hóa có “sự thủ tiêu không gian qua thời gian”.

Thực tế là quá trình toàn cầu hóa diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến quân sự, văn hóa... Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế thị trường hiện đại, là kết quả tất yếu của sự phát triển và xã hội hóa cao độ của lực lượng sản xuất. Các nền kinh tế phi thị trường không thể có xu hướng ấy. Cho nên mặt chủ yếu của toàn cầu hóa hiện nay là toàn cầu hóa kinh tế. Bởi vậy, hiện nay người ta thường nói nhiều hơn tới toàn cầu hóa kinh tế, tập trung nhiều định nghĩa hơn cho toàn cầu hóa kinh tế cũng là điều dễ hiểu. Từ đó, nhiều quan niệm cho rằng không nên nói toàn cầu hóa chung chung mà nên “ngầm hiểu” nói tới toàn cầu hóa chủ yếu là nói tới toàn cầu hóa về kinh tế.

Tham khảo những quan niệm khác nhau về toàn cầu hóa kinh tế, các đại biểu tham dự Hội thảo “Hội nhập kinh tế quốc tế - những vấn đề lý luận và thực tiễn” diễn ra tại Hà Nội tháng 3 năm 2004 đã có ý kiến đồng thuận về khái niệm toàn cầu hóa kinh tế: Toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế vượt khỏi biên giới quốc gia, hướng tới phạm vi toàn cầu, trong đó hàng hóa, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động… vận động thông thoáng; mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và khu vực được vận hành theo “luật chơi” chung được xác lập giữa các thành viên trong cộng đồng quốc tế; sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng; tính xã hội hóa của sản xuất ngày càng tăng; các nền kinh tế ngày càng có quan hệ mật thiết với nhau và tùy thuộc lẫn nhau.

 Tuy nhiên, có thể thấy: dù là toàn cầu hóa về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, định nghĩa toàn cầu hóa (nói chung) thuộc loại này hay loại khác thì dường như mọi quan điểm đều có sự gặp gỡ ở chỗ là rõ ràng “toàn cầu hóa” có sự hiện diện của “mối quan hệ giữa các quốc gia” và của “tính quá trình”. Xét về mặt ngữ nghĩa cũng vậy. Trong khi “hóa” nói tới tính quá trình thì “toàn cầu” nói tới quy mô, tới sự liên hệ (các quốc gia). Theo đó, có thể hiểu một cách chung nhất rằng toàn cầu hóa là khái niệm để chỉ một quá trình mà ở đó có sự gia tăng của các mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trên mặt kinh tế.

Về bản chất: Các quan điểm về toàn cầu hóa đều được xây dựng dựa trên bản chất của nó. Thực tế là đến nay, bản chất của toàn cầu hóa cũng vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi do cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Nhưng lưu ý rằng bản chất đó không đơn thuần là mặt tích cực hay tiêu cực. Và muốn hiểu bản chất đó, không đơn thuần dựa vào cảm tính hay ý muốn chủ quan hoặc xem xét chỉ dựa trên một vài biểu hiện của toàn cầu hóa. Cần thiết phải hiểu bản chất của toàn cầu hóa dựa trên những nội dung cốt lõi của nó là quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa kinh tế và chính trị; về giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Trên cơ sở đó, có thể thấy rằng toàn cầu hóa có bản chất hai mặt. Một mặt, nó là một xu thế khách quan như kết quả của sự phát triển cao của lực lượng sản xuất và các yếu tố vật chất khác. Mặt khác, nó cũng là một quá trình kinh tế – xã hội, chính trị – xã hội bị một số thế lực tư bản quốc tế chi phối. Chính sự đan xen giữa hai mặt, giữa cái chủ quan và khách quan đã khiến cho toàn cầu hóa, về bản chất, trở thành một quá trình chứa đựng đầy mâu thuẫn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Đó là lí do vì sao trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã nhận định: Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh. Xu thế này là kết quả tất yếu của sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng. Xu thế này được qui định bởi bốn yếu tố chủ yếu sau:

- Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ: chính cuộc cách mạng này đã tạo ra những yếu tố vật chất có tính quyết định sâu xa nhất đối với sự ra đời và phát triển xu thế toàn cầu hóa. Chỉ nói riêng trong lĩnh vực công nghệ thông tin: Sự xuất hiện liên tiếp của các thế hệ chip máy vi tính, sự xuất hiện và gia tăng nhanh chóng của các hệ điều hành điện tử…đã khiến nhiều người thấy “chóng mặt trong xa lộ thông tin”, khiến nhiều người dùng “công nghệ thông tin” hay “xa lộ thông tin” làm tên gọi cho kỷ nguyên này.

Như thế, cách mạng khoa học - công nghệ cụ thể là mạng Internet đã thực sự tạo ra những điều kì diệu, khiến rút ngắn thời gian và khoảng cách địa lí, khiến cả thế giới dường như không còn giới hạn nữa. Đây là yếu tố đầu tiên làm nên tính khách quan của xu thế toàn cầu hóa.

- Sự phân công lao động quốc tế: sự phân công này hiện đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng và ngày càng tiến triển theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu khiến toàn cầu hóa càng có cơ hội phát triển.
Hiện nay, các sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao (tiêu biểu như robot, chip điện tử..) chủ yếu tập trung ở các quốc gia tư bản phát triển, có tiềm lực mạnh về nhiều mặt. Ngược lại, các quốc gia kém phát triển và đang phát triển lại trở thành nơi cung cấp cho thị trường quốc tế những sản phẩm, dịch vụ thuộc cấp thấp hơn về công nghệ và chất lượng. Như thế sự phân công lao động quốc tế tất yếu đưa đến sự xích lại gần nhau giữa các nền kinh tế nói riêng, giữa các quốc gia nói chung, đưa đến tính tất yếu của quá trình toàn cầu hóa.

- Kinh tế thị trường: sự phát triển mạnh mẽ và phổ biến của kinh tế thị trường từ hàng thập kỷ qua trên toàn thế giới cũng thúc đẩy toàn cầu hóa trở thành một xu thế khách quan. Nếu như trước đây, trong thời kì chiến tranh lạnh (1947 – 1989) thế giới xảy ra tình trạng khu biệt, co cụm về kinh tế thì ngày nay, kinh tế thế giới đã được nhất thể hóa về mặt cơ chế vận hành và thị trường. Điều này tạo cơ hội cho tất cả các nước đều có cơ hội tham gia vào một “sân chơi” chung, được đứng chân trong một nơi gọi là “ngôi làng toàn cầu”, được xích lại gần nhau. Và do đó, đây cũng là một yếu tố căn bản thúc đẩy tính khách quan của toàn cầu hóa.

- Các vấn đề toàn cầu: Ngoài ra, các vấn đề toàn cầu khác cũng đã và đang đặt ra một cách cấp bách, đòi hỏi các quốc gia dân tộc phải có một nỗ lực chung để cùng giải quyết. Đó là vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái trong bối cảnh trái đất đang ngày càng nóng lên, diện tích nước ngọt đang ngày càng thu hẹp, thiên tai dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp… Đó là những vấn đề chủ quyền quốc gia, tình hình kinh tế nhiều bất ổn… Những vấn đề đó đã trở thành “nỗi lo không của riêng ai”, trở thành những vấn đề toàn cầu, thúc đẩy tính khách quan tất yếu của toàn cầu hóa.

Toàn cầu hóa hiện nay cũng đang chịu sự câu thúc, chi phối của nhiều nước tư bản phát triển, nhiều tập đoàn tư bản khổng lồ xuyên quốc gia mà đứng đầu là Mỹ và các tập đoàn kinh tế của họ.
Điều đó đúng như nhận định của Mác: quá trình quốc tế hóa kinh tế dù  mang trong nó yếu tố khách quan nhưng bên trong nó và thúc đẩy nó luôn luôn là ý muốn chủ quan của những kẻ nắm các lực lượng kinh tế hùng hậu nhất. Toàn cầu hóa chính là kết quả của tính tất yếu khách quan của sản xuất và ý đồ chủ quan của chủ nghĩa tư bản vì mục tiêu lợi nhuận. Hay nói cách khác, toàn cầu hóa mặc dù là xu thế phát triển khách quan, song nó đã và đang chịu sự câu thúc của các nước tư bản lớn, của các thế lực tư bản tài chính.

Như vậy, có thể thấy, hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ. Xu thế này tạo nên mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động qua lại giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới không phân biệt thể chế chính trị, biên giới lãnh thổ và dưới nhiều mức độ, tính chất khác nhau. Vì vậy, trên thực tế, đã diễn ra hàng loạt hội thảo, hội nghị, công trình khoa học… nghiên cứu và bàn về toàn cầu hóa cũng như sự ảnh hưởng của nó tới quốc tế, như các cuộc hội nghị ở Siaton (Mỹ tháng 11 năm 1999), Đavot (Thụy Sĩ tháng 1 năm 2000), Băng Cốc (Thái Lan tháng 10 năm 2000), Đô Ha (Cata năm 2003)… Ở Việt Nam, toàn cầu hóa cũng được quan tâm đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước với mục tiêu hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, được ghi nhận trong nhiều văn bản như Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng; Nghị quyết 07-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX…

Toàn cầu hóa không nên hiểu là toàn cầu hóa kinh tế, không hoàn toàn là hiện tượng kinh tế và tác động của nó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế. Thực tế cho thấy, toàn cầu hóa là hiện tượng phức tạp, sâu sắc và có tính bao trùm trên nhiều lĩnh vực, bao gồm cách thức truyền tải thông tin và phương pháp sáng tạo mới… Quy luật thép của toàn cầu hóa rất đơn giản: cho rằng nó hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu đều là không hiểu đúng về nó. Toàn cầu hóa đang tạo ra các xu hướng đối nghịch: trao thêm quyền và tước bỏ quyền, thống trị văn hóa và bảo tồn bản sắc, dân chủ hóa và độc tài hóa… Toàn cầu hóa tạo ra thị trường toàn cầu, về Internet và hệ thống tìm kiếm Google, về các trang mạng xã hội của mỗi cá nhân.

Ở Việt Nam, sự nghiệp đổi mới cũng chịu nhiều tác động từ xu thế toàn cầu hóa. Một mặt, toàn cầu hóa đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội hội nhập sâu, rộng vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa quốc tế. Mặt khác, toàn cầu hóa cũng đặt Việt Nam đứng trước hàng loạt thách thức khi mà toàn cầu hóa đang ngày càng bị các thế lực tư bản tài chính của các nước TBCN thao túng. Thách thức này đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo, làm tốt công tác xây dựng Đảng, trong sạch hóa bộ máy tổ chức của Đảng. Có như vậy, Việt Nam mới có thể tránh được nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia khác trong “sân chơi chung toàn cầu”./.
 


Bùi Lệ Quyên

Tham khảo:
1. C. Mac và Ph. Ăngghen [1995]: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội.
2. Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Kinh tế và Chính trị thế giới [2005]: Toàn cầu hóa, chuyển đổi và phát triển tiếp cận đa chiều, Nxb Thế giới.

 

Bài hát thanh niên

Video

 

Văn bản mới nhất

Tin đọc nhiều

 

 

Hỗ trợ trực tuyến

Đặng Hùng
Telephone number of Đặng Hùng 0986.416.636
Ban Tuyên giáo
Telephone number of Ban Tuyên giáo 03203.894857

Video



Get the Flash Player to see this player.

Liên kết