Đổi mới chính trị ở Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa.

Email In PDF.

Những thành tựu đạt được trong tiến trình gần 30 năm đổi mới (1986 – 2012) đã khẳng định tính đúng đắn của con đường mà Việt Nam đã lựa chọn. Đó là đi lên CNXH, kiên trì con đường đổi mới toàn diện, thông qua đổi mới kinh tế để lựa chọn và từng bước đổi mới các vấn đề chính trị. Bước đi này phù hợp với lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, về đổi mới chính trị nói riêng, trong thực tế, nó cũng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.



Ảnh minh họa


Đổi mới chính trị được Đảng ta xác định là kiên trì mục tiêu CNXH, tiếp tục con đường bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, đi tới CNXH; đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi hoặc từ bỏ chế độ XHCN. Thực chất của đổi mới chính trị là đổi mới tư duy chính trị về CNXH và con đường đi lên CNXH; đổi mới cơ chế, chính sách mà hạt nhân cơ bản là giải quyết hợp lý, hài hòa quan hệ lợi ích; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị để xây dựng chế độ XHCN ngày càng vững mạnh, thực hiện tốt nền dân chủ XHCN nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung cơ bản của đổi mới chính trị ở nước ta là đổi mới tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH, trong đó trọng tâm là đổi mới tư duy chính trị và hệ thống chính trị.


Đổi mới chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, ngoài các yếu tố về trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trong nước, còn chịu sự tác động ngày càng tăng của những xu thế biến đổi trên thế giới, trong đó có toàn cầu hóa.


Sự tác động này tác động hai mặt đến đổi mới chính trị ở nước ta. Một mặt, toàn cầu hóa đưa lại những thời cơ, cơ hội để Việt Nam tích cực đổi mới tư duy chính trị, hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế, vào đời sống chính trị, văn hóa, xã hội thế giới.


Trên thực tế, xu thế toàn cầu hóa đã đặt Đảng Cộng sản Việt Nam trước yêu cầu phải liên tục đổi mới tư duy chính trị nhằm hoàn thiện lý luận, định hướng cho việc hoạch định đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn trong thực tiễn. Đó là yêu cầu phải nghiêm túc và khẩn trương làm công tác lý luận, nhận thức và đánh giá kịp thời, chuẩn xác các vấn đề thời đại, các khuynh hướng vận động của thế giới, từ đó tích cực đẩy mạnh chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là yêu cầu nhận thức đúng và đầy đủ về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên CNXH ở nước ta dưới tác động của toàn cầu hóa, như quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN; quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất phù hợp; quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Toàn cầu hóa cũng thúc đẩy Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới tư duy nhận thức về các động lực cần phát huy trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, đó là kết hợp hài hòa các lợi ích; đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; hoàn thiện nền văn hóa XHCN, phát huy vai trò của nguồn lực con người trong xây dựng CNXH.


Từ đó, trong tư duy, Đảng ta nhận thức được sâu sắc rằng hội nhập là một con đường cơ bản và tất yếu để phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa. Về nội dung, trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, Đảng ta cũng nhận thức rõ rằng hội nhập không chỉ là “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” mà còn phải “đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” [1,tr.112], “tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương” [2,tr.236-237], “đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước, con người Việt Nam với thế giới” [2, tr.226-227].


Đồng thời, Đảng ta nhấn mạnh trước hết và chủ yếu là đổi mới kinh tế, trên cơ sở đó, cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống người dân, tạo lập ổn định tích cực mà tiến hành đổi mới hệ thống chính trị từng bước vững chắc, thận trọng. Từ đó, Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã chuyển từ việc phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp xu thế phát triển của kinh tế thế giới; đồng thời đem lại diện mạo mới cho nền kinh tế đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân vào chế độ, nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước trên trường quốc tế. Trên thực tế, rất nhiều luật đã được ban hành như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp, Bộ Luật lao động, Luật Hàng không, Luật Hàng hải… được ban hành, tạo môi trường pháp lý ngày càng đồng bộ, hoàn thiện hơn cho nền kinh tế thị trường hoạt động, phát triển và hội nhập quốc tế; cho sự ổn định, phát triển, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Việt Nam mở rộng quan hệ thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới ký kết các hiệp định kinh tế song phương với các nước; tham gia và trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế tg và khu vực như Ngân hàng thế giới WB, Qũy Tiền tệ quốc tế IMF, Ngân hàng phát triển châu Á ADB; tham gia các liên kết khu vực ASEAN, APEC, ASEM và trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO…


Tuy nhiên bên cạnh đó, toàn cầu hóa với sự lũng đoạn của CNTB toàn cầu cũng đặt chế độ chính trị Việt Nam trước những thách thức không nhỏ như nguy cơ chệch hướng XHCN, nguy cơ diễn biến hòa bình và tự diễn biến trong Đảng, nguy cơ tụt hậu về kinh tế, nguy cơ không kiểm soát và xử lý được hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh trong bối cảnh diễn biến quốc tế và trong nước phức tạp.


Trong suốt những năm Việt Nam tiến hành đổi mới cho đến tận hôm nay, các thế lực đế quốc không ngừng tìm mọi cách, bằng mọi con đường nhằm tấn công phá vỡ sự lãnh đạo của Đảng; tuyên truyền và cổ động trong nhân dân tính ưu việt, tiến bộ của cái gọi là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Bên cạnh đó, cũng bằng nhiều cách, các thế lực phản động và thù địch đã mua chuộc những đảng viên cộng sản, những quần chúng ưu tú nhằm làm xáo trộn đời sống chính trị - xã hội nước ta; làm quần chúng nhân dân mất niềm tin vào chế độ; làm phai nhạt lý tưởng cộng sản. Các thế lực này cũng tìm nhiều cách để bóp méo sự thật đời sống chính trị - xã hội ở Việt Nam; lợi dụng sự phát triển cao của công nghệ hiện đại, khuếch trương những sự thật bị bóp méo này trên trường quốc tế, làm công cụ công kích Đảng cộng sản và cản trở con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.


Toàn cầu hóa TBCN với những mặt trái của nó cũng đã tác động tiêu cực đến Nhà nước Việt Nam, gây nguy cơ chệch hướng chế độ XHCN. Ỷ thế có sức mạnh về kinh tế và khoa học – công nghệ, các nước tư bản phát triển đang thao túng các tổ chức kinh tế tài chính toàn cầu như IMF, WB, WTO… áp đặt những quy chế và phương thức hoạt động không bình đẳng, gây thiệt hại ngày càng nghiêm trọng, uy hiếp chủ quyền quốc gia Việt Nam. Trước đây, chủ quyền quốc gia mang tính tuyệt đối, trong xu thế toàn cầu hóa, chủ quyền quốc gia mất dần tính tuyệt đối. Việt Nam không chỉ đứng trước nguy cơ chệch hướng chính trị mà còn đứng trước nguy cơ bị xâm phạm chủ quyền lãnh thổ khi mà cùng với xu thế toàn cầu hóa là sự ra đời và có vai trò ngày càng quan trọng của các tổ chức như Liên hợp quốc, tòa án quốc tế, các khối quân sự quốc tế, các tổ chức thương mại và tài chính quốc tế…; khi mà các thế lực hiếu chiến bất chấp mọi thủ đoạn để chống phá chế độ ta, can thiệp vào công việc nội bộ và chủ quyền của dân tộc ta. Từ đó, định hướng chính trị XHCN và tính độc lập tự chủ của Việt Nam ngày càng gặp nhiều nguy cơ, đứng trước ngày càng nhiều thách thức. Trong khi đó, về quân sự và kinh tế, Việt Nam đều không có lợi thế so sánh trong khu vực cũng như quốc tế. Cùng với đó, các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong người Việt luôn tìm mọi cách, kiếm mọi nguồn viện trợ để thực hiện các âm mưu chống phá chế độ, phá vỡ sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ra sức thực hiện các chiêu bài “tự do”, “nhân quyền”, “tôn giáo, tín ngưỡng”, “dân tộc”… tuyên truyền, kích động, chia rẽ, ly khai; ráo riết thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ trên phạm vi cả nước.
Những tác động của toàn cầu hóa đến đổi mới chính trị ở Việt Nam đã và đang đặt ra hàng loạt vấn đề như vị thế kinh tế của Việt Nam còn thấp kém hơn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới; những thách thức trong “luật chơi” của các tổ chức khu vực và thế giới như ASEAN, WTO…; sức ép cạnh tranh của quốc tế; sự bành trướng và gây áp lực về mọi mặt của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia; nhận thức về nội dung, bước đi, lộ trình hội nhập quốc tế, về đổi mới chính trị chưa đạt được sự nhất trí cao và nhất quán.
Nhận thức đúng đắn những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đến đổi mới chính trị ở Việt Nam giúp Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định chính đường lối, lãnh đạo Nhà nước triển khai hiệu quả các chính sách nhằm phát triển toàn diện đất nước. Một số quan điểm cơ bản được Đảng ta quán triệt là:


- Kiên trì đổi mới toàn diện trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh;
- Đổi mới chính trị phải bảo đảm nguyên tắc: đổi mới không phải là thay thế thể chế chính trị mà là nhận thức và xây dựng một chế độ chính trị thực sự dân chủ, Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo;
- Đổi mới chính trị kết hợp chặt chẽ, hài hoà với đổi mới các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng;
- Đổi mới chính trị là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định.
Như vậy, toàn cầu hóa không chỉ tạo ra khả năng phát triển rút ngắn cho Việt Nam, đem đến cho Việt Nam nhiều cơ hội mà còn đặt Việt Nam trước rất nhiều thách thức. Từ đây, những tác động của toàn cầu hóa đặt ra vấn đề phải nhận thức đầy đủ, thống nhất về đổi mới chính trị ở Việt Nam; phải tiến hành đổi mới trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc cơ bản; phải nhận thức và dự báo tốt các xu hướng tác động của toàn cầu hóa đến đổi mới chính trị đồng thời kiên trì đấu tranh chống các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” trong nội bộ Đảng ta.
Trong cuốn sách “Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương”, ngay từ những năm 90, 91 của thế kỷ XX, tác giả Ljunggren đã dự đoán “Việt Nam sẽ bước vào con đường đi tới tham gia “đội hình bước đều” của Đông Á. Dần dần, Việt Nam sẽ tạo được mức tăng trưởng kinh tế đủ để Nhà nước tăng cường vai trò then chốt của mình trong phát triển cơ sở hạ tầng vật chất, xã hội” và sẽ tiếp tục đẩy nhanh hơn công cuộc đổi mới. Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng “quá trình này” (tức quá trình đổi mới) không chỉ là đổi mới về kinh tế mà còn “đòi hỏi phải tăng thêm đổi mới chính trị”.
Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa với tư cách là một xu thế khách quan “lôi cuốn các nước, bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực” mở ra nhiều thời cơ mới, vận hội mới cho Việt Nam nhưng mặt khác, cũng đặt Việt Nam trước rất nhiều khó khăn, thách thức. Tiếp tục “đổi mới để thích ứng” vẫn là sự lựa chọn kịp thời và đúng đắn. Tiến trình này đòi hỏi sự lãnh đạo trí tuệ, vững vàng, bản lĩnh của Đảng Cộng sản, của Nhà nước và trách nhiệm trước toàn dân tộc Việt Nam.


Bùi Lệ Quyên

1. Đảng cộng sản Việt Nam [2006]: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội.
2. Đảng cộng sản Việt Nam [2011]: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội

 

Bài hát thanh niên

Video

 

Văn bản mới nhất

Tin đọc nhiều

 

 

Hỗ trợ trực tuyến

Đặng Hùng
Telephone number of Đặng Hùng 0986.416.636
Ban Tuyên giáo
Telephone number of Ban Tuyên giáo 03203.894857

Video



Get the Flash Player to see this player.

Liên kết